[if lte IE 8]> [endif]-->
CHÙA GIRIKUMA RAMA (THIẾU SƠN TỰ) - Địa Chỉ: Ấp Thạnh Tâm, Xã Thành Long, Huyện Châu Thành, Tỉnh Tây Ninh. Di Động: 0918 834 596 (Đại Đức Danh Đông - Trụ Trì). Email: danhdong2000@yahoo.com. website: www.chuakhmertayninh.com

Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2013

Ấn tượng nghệ thuật múa Khmer


Trong bất kỳ lễ hội nào của người Khmer ở Nam Bộ, thì múa luôn là món ăn tinh thần không thể thiếu được, nhiều người Khmer nói rằng: Nếu không có múa thì lễ hội sẽ không thành!
Nghệ thuật múa truyền thống Khmer đã nổi tiếng từ lâu không chỉ nhân dân trong nước biết đến mà nhiều người trên thế giới cũng rất ngưỡng mộ. Vì vậy, có thể nói nghệ thuật biểu diễn của dân tộc Khmer đã bắt nguồn từ kho tàng văn nghệ dân gian vô cùng phong phú và đa dạng, được sáng tạo từ những con người rất có năng khiếu và yêu thích nghệ thuật.
Trong bất kỳ lễ hội nào của người Khmer ở Nam Bộ, thì múa luôn là món ăn tinh thần không thể thiếu được, nhiều người Khmer nói rằng: Nếu không có múa thì lễ hội sẽ không thành! Múa có trong tất cả các lễ hội từ Tết năm mới Cholchnamthmay, lễ Dolta, cho đến lễ Cúng trăng (Ooc-om-boc) hay bất cứ những dịp lễ khác như các dịp lễ mang tính tôn giáo Dâng y… Bất kỳ nơi đâu chỉ cần có tiếng kèn và nhịp trống nổi lên là ở đó có múa.
Múa cung đình – loại hình nghệ thuật bậc thầy
Múa là món ăn tinh thần của người Khmer ở Nam Bộ, qua quá trình phát triển múa Khmer đã hình thành hai hình thái rõ rệt, đó là hình thái múa Cung đình và hình thái múa dân gian. Hình thái múa Cung đình đòi hỏi người múa phải có sự khổ luyện, tinh thần học hỏi rất cao, chịu “nhập tâm” mới có thể truyền tải được những tinh túy văn hóa dân tộc.
Múa Cung đình của người Khmer.
Từ hình thể, tay, chân đến nụ cười, ánh mắt đều phải tập theo những chuẩn mực cổ điển. Cứ nhìn vào những chi tiết cụ thể và chuẩn mực cơ bản ấy mà người ta có thể đánh giá đẳng cấp của nghệ sỹ.
Nghệ thuật múa Cung đình phát triển theo chiều hướng diễn tả tâm trạng mang tính mô phỏng, rồi nâng lên với tính cách ước lệ cao. Như diễn tả những con thú: chim thần (Krud), chằn (Yeak), rắn thần (Naga), khỉ (Hanuman), rồng (Phuchông)… Động tác được hệ thống, qui nạp mang tính khoa học, mực thước, như con khỉ có 12 động tác: cười, lạy, gãi, khóc, nhảy, âu yếm, đau khổ…
Múa dân gian – hình ảnh sống động đậm sắc màu
Nếu như múa Cung đình khoa học, uyên thâm, mực thước, trang trọng và mang tính cổ kính bao nhiêu thì múa dân gian ngược lại bấy nhiêu. Những động tác thoải mái, lạc quan, yêu đời và luôn có chất hóm hỉnh: Múa Sarikakeo, Romvông, Saravan… là những điệu múa rất phổ biến.
Với tiết tấu 4/4 của Romvông nữ guộn lượn hai tay đổi nhau và che lấy ngực còn nam thì lượn guộn tay rộng hơn để bao lấy nữ, nam bước đuổi theo nữ. Tiết tấu 2/8 của Saravan thì cả nam lẫn nữ đều nhấn lượn hai tay buông xuôi theo chiều thân người, với điệu này nam và nữ đối diện nhau, bên tiến bên lùi và ngược lại. Múa Sarikakeo, là điệu múa đôi, được dành cho những cuộc vui của thanh thiếu niên. Múa trống Xadam thì lại là độc vũ của nam giới.
Trong thực tế, thỉnh thoảng múa dân gian đã tiếp thu tinh hoa đặc sắc từ những động tác cung đình rồi biến hóa theo tiết tấu và hòa nhuyễn vào không khí của tác phẩm với nội dung phản ảnh cuộc sống, làm cho nó trở nên nhanh nhẹn, vui vẻ như múa “gáo”, “xúc tép” (Saneng).
Nghệ thuật múa Khmer Nam Bộ là sản phẩm văn hóa tinh thần độc đáo vừa mang tính linh thiêng, vừa là nhu cầu tinh thần sau những ngày lao động mệt nhọc nơi đồng áng. Là những sáng tạo độc đáo góp vào vườn hoa nghệ thuật “muôn hương ngàn sắc” .

PHONG TỤC KHMER CAMPUCHIA VẢ KHMER NAM BỘ

Văn hóa Campuchia mang đậm dấu ấn của các tôn giáo du nhập từ Ấn Độ đặc biệt là Hindu giáo và Phật giáo. Suốt chiều dài lịch sử của Campuchia các luồng tư tưởng tôn giáo này chi phối cũng như ảnh hưởng mạnh mẽ vào mọi mặt của đời sống cả vật chất lẫn tinh thần.
Từ những công trình kiến trúc nguy nga lộng lẫy nổi tiếng thế giới như quần thể Angkor  – di sản văn hóa thế giới cho đến các kiến trúc nhà ở, trường học; từ những điệu nhảy truyền thống trong các ngày lễ hội trọng đại của quốc gia cho đến những bài hát ru con ngủ của các bà các mẹ cũng đậm đà “hương vị” của tôn giáo.
Bên cạnh những nét văn hóa du nhập từ Ấn Độ, Trung Hoa qua tư tưởng tôn giáo thì người dân Campuchia cũng có những nét văn hóa riêng rất đặc sắc, rất “Campuchia” tạo nên một thứ văn hóa vừa quen, vừa lạ, rất gần gũi nhưng cũng rất lạ lẫm với du khách.
1. Tín ngưỡng
Campuchia là một trong những đất nước mà người dân có một niềm tin vào tôn giáo mạnh mẽ nhất và tuyệt đối nhất trên thế giới này. Tôn giáo du nhập vào Campuchia từ rất sớm. Đạo Hindu có mặt tại Campuchia từ thời kỳ sơ khai và nhanh chóng đã chiếm được sự tín ngưỡng của người dân Campuchia. Cho đến thế kỷ thứ VII thì đạo Phật du nhập vào đất nước của những con người có bản chất hiền lành này và nhanh chóng trở thành quốc giáo với trên 90% người dân Campuchia là Phật tử. Và cũng từ đó đến nay đạo Phật ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống của người dân Campuchia từ các chuẩn mực đạo đức xã hội cho đến cách ứng giữa các thành viên trong gia đình.
2. Những đóng góp của Phật giáo đối với đất nước Campuchia
Vì lợi ích của bản thân đạo Phật và sau đó là lợi của quốc gia, cho nên Phật giáo đã hợp tác với vương quyền, trở thành một công cụ hiệu lực cho việc thống nhất tư tưởng của các quốc gia phong kiến Đông Nam Á. Với tất cả sự nỗ lực không mệt mỏi trong hoạt động của mình, Phật giáo trong thời kỳ hưng thịnh của các vương triều Đông Nam Á, điển hình như đất nước Campuchia đã tôn Phật giáo lên địa vị độc tôn và với vai trò đó, nó đã có những đóng góp quan trọng vào việc củng cố quốc gia thống nhất, vun đắp sự đoàn kết nội bộ giai cấp cầm quyền, thậm chí đóng góp phần lựa chọn cả những con người ngồi trên ngai vàng của vương quốc. Đồng thời cũng để lại nhiều dấu ấn đến nhiều mặt văn hóa – xã hội như văn học, nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc, luật pháp. . . .
Phật giáo đã gắn liền với sự hưng vong của vương quốc Campuchia, khi quốc gia cường thịnh, Phật giáo được phát triển đến đỉnh cao, còn khi độc lập chủ quyền đã bị mất thì Phật giáo cũng chịu chung số phận với đất nước. Sự có mặt của Phật giáo Campuchia đã góp phần quan trọng tạo nên bản sắc văn hóa riêng của nước nhà, ngôi chùa ngoài việc là trung tâm văn hóa của bản làng mà còn là nơi bảo vệ nền văn hóa lâu đời của dân tộc, bảo vệ và xây dựng vẻ đẹp cho cuộc sống mọi người, từ thời Phù Nam đến Chân Lạp, Angkor.v.v… Ngày nay, Phật giáo vẫn là nền tảng văn hóa – xã hội của đất nước Campuchia nói riêng và cả Đông Nam Á nói chung.
3. Gặp gỡ và chào hỏi
- Người Campuchia có rất nhiều cách chào hỏi, phụ thuộc vào mối quan hệ, thứ bậc và tuổi tác giữa người với người.
- Cách chào hỏi truyền thống là cuối người cùng với động tác chắp tay trước ngực (tương tự như động tác đặt tay khi cầu nguyện của Phật giáo).
- Một người muốn thể hiện sự kính cẩn với người đối diện sẽ cúi người thấp hơn và chắp tay ở vị trí cao hơn.
- Đối với người ngoại quốc, người dân Campuchia cũng dùng cách bắt tay, tuy nhiên, phụ nữ nước này vẫn dùng cách chào truyền thống đối với khách.
- Nguyên tắc ứng xử khi chào hỏi ở nước này rất đơn giản: đáp lại tất cả những lời chào mình nhận được.
- Ở Campuchia, để gọi người khác một cách lịch sự và kính trọng, người ta thường thêm từ "Lok" đối với đàn ông và "Lok Srey" đối với phụ nữ trước họ hoặc  họ và tên đầy đủ.
4. Tặng quà
- Người Campuchia chỉ thường tặng quà cho nhau vào dịp tết cổ truyền của dân tộc (Chôl Chhnam).
- Không giống các nền văn hóa khác, người dân Campuchia không tổ chức sinh nhật và sinh nhật không được coi là một dịp kỷ niệm đáng nhớ giống người phương Tây, rất nhiều người ở thế hệ trước thường không nhớ chính xác ngày sinh của mình.
- Khi được mời đến nhà bạn bè hoặc người khác dự tiệc, người dân thường mang theo một số món quà nhỏ.
- Tránh tặng dao.
- Quà tặng thường được gói cẩn thận trong những tờ giấy gói quà đầy màu sắc.
- Nên dùng cả hai tay khi trao quà.
- Không được mở quà ngay sau khi nhận.
5. Ăn uống
- Cách ứng xử tại bàn ăn của người Campuchia khá trang trọng
- Nếu bạn không nắm chắc về những điều nên hay không nên làm tại bàn ăn cùng với người dân nước này, thì cách đơn giản nhất là làm theo những người bên cạnh;
- Khi được mời đến dự bất cứ bữa ăn nào, hãy chờ cho đến khi bạn được xếp chỗ để tránh phạm phải những quy tắc sắp xếp theo tôn ti trật tự;
- Người lớn tuổi nhất thường là người ngồi vào bàn ăn đầu tiên, tương tự như thế đây cũng là người sẽ bắt đầu ăn trước tiên;
- Tuyệt đối không nói chuyện làm ăn hay kinh doanh trong những dịp như thế này.

Nước Trong Tâm Thức Của Người Khmer

Tìm hiểu văn hóa Khmer ở Nam bộ, phần đông các nhà nghiên cứu nhắc đến các công trình kiến trúc chùa chiền, gắn liền với những lễ hội phong phú, hoặc những điệu múa truyền thống, uyển chuyển mềm mại đầy tính nhân văn …, nhưng lại ít đề cập và đi sâu vào một thành tố quan trọng, liên quan mật thiết đến cuộc sống của muôn loài, đến từng nghi lễ, nghi thức trong phong tục tập quán, trong các lễ hội của người Khmer, đó là nước. Tuy là dạng vật chất chưa phân hóa, không mùi, không vị, nhưng nước lại là nguồn sống, là phương tiện thanh tẩy và là trung tâm của sự tái sinh (tất nhiên nước cũng có khả năng trở thành kẻ hủy diệt).
Trong giới hạn bài viết này, chúng tôi xin trình bày một số nét về cách nhìn nhận, những suy nghĩ của người Khmer đối với nước mà từ lâu đã gắn chặt với phong tục tập quán của dân tộc.
1. Quan niệm về nước.
Người Khmer cho rằng, nước là một dạng vật chất, có mặt trong vũ trụ từ rất sớm – nước kết hợp với ba dạng vật chất khác là đất, lửa và gió tạo nên mọi thứ trên thế gian, trong đó có cả con người. Nói cách khác, bốn yếu tố đất, nước, lửa, gió đã cấu thành nên vạn vật. Nước còn là biểu tượng của sự tinh khiết, trong trắng, mềm mại, hiền hòa, tự do … Và, vì thế mà người phụ nữ trong cách nhìn của người Khmer được xem như một biểu tượng của nước. Trong truyền thuyết Pres Thong – Neang Neak[1], kể về nguồn gốc tộc người, thì nước là thành tố không thể tách rời, thoát ly sự phát triển của dân tộc. Neang-Neak (Neang-Teavatey) là công chúa con vua Thủy Tề (Sa-đach Pha-chong-Neak) và là tổ mẫu của người Khmer, có cội nguồn từ thế giới của loài thủy tộc (Thal-pha-chong-neak)[2] thuộc xứ sở Bat-ta-đal – “xứ sở của đại dương”; Neang Neak có một nửa thân hình là người, một nửa là loài rắn bảy đầu đã kết duyên với Pres-Thong trên “hòn đảo Kôk-thlôk”[3], cùng sáng lập nên vương triều Khmer đầu tiên. Chính họ đã mang lại cho dân tộc Khmer những tri thức cần thiết và nhiều yếu tố tạo nên nền văn hóa Khmer. Ngày nay, hình ảnh về sự kết duyên này vẫn còn in đậm trong đám cưới Khmer (nghi thức chú rễ níu vạt áo choàng cô dâu vào phòng hoa chúc, nghi thức nhuộm răng cô dâu, …).
2. Phân loại nước.
Trong quan niệm của người Khmer, nước trong vũ trụ gồm ba loại cơ bản:
Tưk-om-rach: là loại nước của tầng trời, nước thiêng, nước của thánh thần, đó là thứ nước mầu nhiệm, chỉ dành cho các vị Tê-vô-đa, thánh thần sử dụng, nó có thể làm cho con người trường sinh bất tử, chết đi sống lại, xấu xí trở nên xinh đẹp, yếu đuối trở nên mạnh mẽ. Loại nước này thường được đặt tại nơi thiêng liêng trong vũ trụ, được canh giữ cẩn trọng, người phàm khó có khả năng tìm thấy, thậm chí đối với các bậc thánh thần, nếu chưa được phép dùng mà cố tình sử dụng bị xem đã phạm “luật trời” và tất nhiên sẽ bị trừng phạt. Hình ảnh Reahu mà ngày nay ta thấy chỉ có cái đầu, chính là bị chiếc chong chóng (cánh quạt thần) chém đứt, do cậy mình có sức mạnh, lén uống nước thánh tại giếng thiêng ở trên cõi trời. Trong kho tàng văn học dân gian Khmer và trong cách hành lễ của các vị đế vương trước đây cũng có khá nhiều truyện kể về loại nước này. Trong số đó, có câu chuyện kể về nguồn gốc loài người rằng, ngày xưa có vị thần Ây-sây (một hóa thân của thần Visnu) đã lên “đỉnh của trái đất”, lấy một thứ nước thiêng tại giếng A-nod-ta-săh cho hai đứa trẻ uống (một nam, một nữ do chính thần tạo ra) để được khỏe mạnh và trường sinh, nhằm duy trì nòi giống cho loài người.
Nước của cõi trần: đó là thứ nước của thế giới tự nhiên được “trời ban tặng” cho con người, như nước mưa, nước sông suối, nước ngầm, nước trong các loại quả (dừa, thốt nốt) …; trong đó, nước mưa và nước trong các loại quả là thứ nước tinh khiết, trong sạch, thường được dùng làm lễ vật dâng cúng cho Chư Phật, thần linh và là phương tiện để thanh tẩy, chữa bệnh nếu như nó được thiêng hóa bằng cách ướp thêm hương thơm hoặc hóa phép bằng những câu thần chú, hay các bài kinh của nhà Phật để làm tăng khả năng thiêng liêng, huyền dịu. Loại nước này hiện nay vẫn đang được người Khmer rất mực tin dùng.
Nước của thế giới ma quỷ: là thứ nước chảy ra từ các cống rãnh, xác chết, dơ bẩn, những chất thải mà con người vứt đi và chỉ dành cho loài ma quỷ sử dụng. Người Khmer cho rằng, đó là sự trừng phạt đối với những ai phạm phải tội lỗi, làm điều xấu xa, ác độc, sau khi chết biến thành ma quỷ, phải chịu cảnh đọa đày không được ăn uống. Một câu truyện dân gian kể rằng, xưa kia có một loài Quỷ dữ, thân hình vạm vỡ to lớn, nhưng miệng lại bé bằng hạt cải xanh. Lúc nào Quỷ dữ cũng khát nước. Một hôm, có một vị Tỳ-kheo (một trong những môn đệ của đức Phật) đi ngang, Quỹ dữ liền quỳ xin sự giúp đỡ. Vị Tỳ-kheo bảo Quỷ dữ nằm ngửa mặt lên và dùng bát cơm của mình múc nước ao gần đó cho uống. Uống xong 10 bát, Tỳ-kheo hỏi “còn khát không”, Quỷ dữ trả lời “vẫn còn khát”. Tỳ-kheo thấy lạ, đem câu chuyện thuật lại cho Phật tổ nghe. Đức Phật bảo, phải lấy nước mưa dâng lên các vị chư Tăng, sau đó cầu nguyện, thông qua các bài kinh phổ độ của nhà Phật thì Quỷ dữ mới cảm thọ được phước đức mà người khác cho mình, Quỷ dữ mới thấy không còn khát nữa. Như vậy, nước sau khi đã được thiêng hóa, trở nên huyền năng vô cùng.
3. Nước trong các lễ nghi, phong tục.
Từ thuở hỗn mang của vũ trụ đến tận hôm nay và cả trong tương lai, nước vẫn luôn là yếu tố chiếm vị trí quan trọng trong thế giới của muôn loài, bởi nó là khởi nguyên của mọi sự sống và có sức mạnh duy trì sự sống. Điều này cắt nghĩa vì sao các nhà khoa học khi tìm kiếm sự sống ở ngoài trái đất, bao giờ họ cũng đặt trọng tâm vào nghiên cứu những biểu hiện của nước trên bề mặt hành tinh.
Với người Khmer, mặc dù khái niệm về thế giới xung quanh, về các tinh tú, các cõi trời không phải xa lạ, nhưng trên đại thể người Khmer biết rằng, nước là một thành phần mang lại lợi ích thiết thực cho chính cuộc sống của mình, phục vụ đắc lực cho con người không chỉ về mặt vật chất mà cả tinh thần. Nước, trước hết là nguồn tưới tiêu quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, nhất là trong làm rẫy, nuôi trồng thủy sản và canh tác lúa nước. Là dân tộc vốn từng sinh sống trong môi trường thường xuyên bị ngập nước bởi sự xâm thực của nước biển, từ những đợt nước lũ ở các đầu nguồn tràn về, nên ngay từ rất xưa, người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long đã biết cách làm thủy nông nội đồng, đào xẻ kênh mương, dẫn nước tháo phèn mặn cho đồng ruộng để đảm bảo mùa màng được bội thu. Tại một địa bàn thuộc xã Ninh Thạnh Lợi, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu ngày nay vẫn còn dấu tích về hệ thống mương phai chằn chịt trước đây. Và, truyền thuyết về Ao Bà Om[4] cũng là một trong những biểu hiện của quá trình làm thủy nông nội đồng, đúng hơn là sự ngợi ca về chiến công của người Khmer trong sự đấu tranh, chống chọi làm chủ tự nhiên.
Mặc dù có những bước phát triển nhất định trong sản xuất nông nghiệp, song, ở người Khmer vẫn còn lệ thuộc rất nhiều vào yếu tố tự nhiên, đặc biệt là nước. Nếu như ngày nay, việc sử dụng các loại nước máy, nước ngầm từ các giếng khoan và các nhà máy nước là điều khá phổ biến trong cộng đồng người Khmer, thì trước đây để có đủ nước sử dụng trong mùa khô, nhất là trong sinh hoạt thường nhật (giặt giũ, nấu nướng, ăn uống), tại mỗi phum sróc hoặc trong mỗi ngôi chùa Khmer, người ta thường đào một cái ao thật to để tích trữ nước mưa. Những cái ao đó luôn được giữ gìn, bảo vệ cẩn thận. Người ta cấm bơi lội trong ao hoặc thả các chất dơ bẩn vào ao, khi tắm phải múc lên và bước ra xa bờ rồi mới tắm để tránh nó chảy ngược vào ao, vì người Khmer tin rằng mỗi ao đìa của phum sróc đều có một vị Arăk[5] trông coi, nếu làm vẩn đục nguồn nước trong ao cũng có nghĩa con người đã “xúc phạm” tới thần linh và chắc chắn sẽ bị trừng phạt, có thể sẽ gặp phải bệnh tật hoặc những tai ương khác xảy đến cho dân làng bất cứ lúc nào. Với quan niệm đó, hàng năm những người có trách nhiệm trong phum sróc phải mang lễ vật ra bờ ao dâng cúng cho thần. Qui định này, xét cho cùng phải chăng là cách giáo dục của người xưa đối với cộng đồng nhằm bảo vệ lợi ích chung, bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe con người.
Và, nếu như trong một năm nào đó, mưa không thuận, gió không hòa, trời đất khô cằn, các kênh rạch, ao đìa đều cạn kiệt, gây khó khăn cho cuộc sống, thì vị A-cha [6] sẽ tập hợp bà con trong phum sróc lại để tổ chức lễ Cầu Mưa (Bond-som-tưk-phlieng). Người ta bắt những thanh niên khỏe mạnh, ngồi trên một chiếc xuồng nhỏ đặt trên cạn ở giữa đồng trống hoặc ở giữa phum, bơi thật mạnh, thật nhanh trong cái nắng oi bức của buổi trưa cho đến khi mệt nhoài. Tại nhiều nơi, người ta còn thỉnh cả vị sư tụng kinh niệm Phật ở ngoài nắng gay gắt mà không dùng bất cứ vật gì để che nắng. Bằng cách đó, người Khmer tin rằng sẽ tác động đến tầng trên, làm động lòng các thần linh, buộc thần phải đổ mưa tức khắc. Tất nhiên không phải cứ có hạn hán kéo dài, sau khi làm lễ Cầu Mưa sẽ có mưa, nên đôi khi người ta phải sử dụng biện pháp khác thực tế và hữu hiệu hơn, đó là đào giếng thật sâu để lấy nước ngầm. Các cụ già tại xã Vĩnh Phước, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng kể rằng, vào khoảng thập niên 40, 50 của thế kỷ trước, bà con Khmer nơi đây thường phải ra sát bờ biển (cách phum cả chục cây số), đào sâu xuống dưới lớp cát phù sa để lấy nước ngọt về dùng.
Có thể nói trong cộng đồng người Khmer nước đã gắn bó mật thiết với đời sống thường nhật và tâm linh. Nước trong cách nhìn của người Khmer là một thứ rất hiền lành, nhưng cũng rất huyền năng, luôn mang đến nguồn hạnh phúc cho con người. Chúng ta rất ít gặp, thậm chí chưa từng thấy nước được hình tượng hóa bằng những điều ác, kẻ hủy diệt. Có chăng là hình ảnh duy nhất về Neang-heng-pres-thô-ni (nữ thần Đất) xõa tóc biến thành biển nước mênh mông dìm chết đội quân của Ma Vương mà ta thường thấy các họa sỹ Khmer vẽ hoặc đắp nổi trên vách tường phía trước của ngôi Chánh Điện. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là hành động trấn áp cái ác, cái vô minh để làm tăng thêm giá trị của cái thiện, cái tốt, cái đúng, là biểu tượng cho sự chiến thắng của đạo Phật vừa mới định hình trong xã hội thời bấy giờ. Rõ ràng nước ở đây có vai trò như một thứ phương tiện để thanh tẩy, diệt trừ cái xấu xa, cũ kỹ và chứa đựng mầm móng của sự tái sinh (con người chết đi, tất phải được đầu thai, tái sinh ở kiếp sống mới).
Chúng ta từng biết, ở các tín đồ Hindu giáo, trong đời người, ít nhất một lần phải được ngâm mình trên dòng sông Hằng để thanh tẩy những tội lỗi của kiếp người, gội rửa những điều xấu xa, giữ tâm trong sạch thanh khiết nhằm sớm được về với cõi Niết-bàn, với đấng tối cao. Đối với người Khmer, thì quan niệm ngược lại, nước ở các con sông, con suối là thứ nước không được trong sạch lắm, đó là loại nước hỗn tạp từ mọi thứ thải ra trên mặt đất đổ dồn vào, nó thường ít mang tính thiêng. Do đó, khi sử dụng nước như một thứ lễ vật để cúng Phật, thần linh, người Khmer chỉ dùng duy nhất nước mưa[7]. Tại các bàn thờ Phật, bàn thờ Têvôđa[8] bàn thờ ông Táo (A-răk Chong-kral), bàn thờ gia tiên trong các gia đình người Khmer lúc nào cũng có một hoặc hai ly nước trắng. Đó là nước mưa, loại nước được xem là trong sạch, tinh khiết như chính cái tâm của con người dâng lên Thần, Phật. Một số vị A-cha tại tỉnh Sóc Trăng lý giải rằng, hai ly nước trên bàn thờ Phật chính là hình ảnh tượng trưng cho Mặt Trời và Mặt Trăng, là biểu tượng của âm và dương, của cái nóng và cái lạnh, là hai yếu tố của sự đối lập, nhưng lại là động lực thúc đẩy quá trình sinh sôi, nảy nở, phát triển của muôn loài. Mặt Trăng trong suy nghĩ của người Khmer được xem là vị thần của đất và nước, chúa tể của mùa màng, có chức năng điều phối sự vận hành của thời tiết, mùa vụ. Việc thờ Mặt Trăng, Mặt Trời thực ra là hình thức tín ngưỡng có từ lâu đời không chỉ ở người Khmer mà nó có mặt khắp các cư dân làm nông nghiệp lúa nước.
Tuy nhiên, vì là dân tộc đi theo đạo Phật, nên trong cách ứng xử, bày tỏ lòng tri ân của mình đối với thần linh, nhất là thần Mặt Trăng, người Khmer có nhiều cách thể hiện không giống các dân tộc khác có chung niềm tin thờ Mặt Trời, Mặt Trăng. Người Khmer cho rằng, trong cuộc sống, con người luôn gây ra tội lỗi, xúc phạm đến đất và nước. Vì sự sinh tồn, vì lòng tham lam vị kỷ, con người thường xuyên làm vẩn đục, uế tạp nước và đất. Do vậy, hàng năm người Khmer phải làm lễ để chuộc tội và tạ ơn đối với Thần. Và, lễ hội Cúng Trăng Ok-Om-Bok, Đua Ghe Ngo, Thả Hoa Đăng (Loy-pro-tuýp), Thả Đèn Trời (Kôm) chính là hình thức mà người Khmer muốn bày tỏ lòng tri ân của mình đối với Thần Nước, Thần Đất, cầu xin sự “tha thứ” của Thần về những hành động của con người đã làm tổn hại đến đất, nước, đến môi trường xung quanh. Mặt khác, Mặt Trăng trong quan niệm chung của nhiều dân tộc vùng Đông Nam Á mang biểu tượng của âm tính, của cái lạnh, của sự ẩm ướt, của mùa mưa. Do đó, Cúng Trăng Ok-Om-Bok, Đua Ghe Ngo, Thả Hoa Đăng (Loy-pro-tuýp), thả Đèn Trời (Bong-hos-kom) cũng chính là cuộc tống tiễn mùa mưa, đón chào mùa khô, là cuộc đưa nước trở về trời, về nơi khởi nguồn, để rồi sau đó lại tiếp tục đổ những cơn mưa xuống cõi trần, mang lại mầm sống mới cho con người và các loài.
Phải nói rằng, nước rất gần gũi với người Khmer. Từ thuở ấu thơ, đến khi trưởng thành và lìa xa cõi đời, mỗi người Khmer đều luôn gắn bó với nước, nhất là “nước óp”, tức “nước thánh, nước thiêng”. Bắt đầu lọt lòng mẹ, đứa trẻ đã được người lớn tắm gội bằng nước ấm có pha chất thơm, xen lẫn những lời nguyện cầu, những câu chú huyền bí để cầu mong đứa trẻ sau này là người xinh đẹp, thông minh, lanh lợi, khỏe mạnh, tránh được bệnh tật đau ốm; đến một tháng tuổi và giáp năm, đứa trẻ lại được các vị chư Tăng, A-Cha làm phép vảy “nước thánh” lên người để xua đi những điều bất trắc, nỗi sợ hãi trong đứa trẻ mà từ lâu người Khmer luôn tin tưởng vào truyền thống này. Bước sang tuổi thứ mười hai (được một giáp), nhất là ở các bé trai, là tuổi bắt đầu trưởng thành, độ tuổi có thể xuất gia vào chùa tu hành, người Khmer lại tiếp tục thỉnh mời các vị sư đến tụng kinh chúc phúc, vảy nước thiêng cho trẻ một lần nữa, nhằm tạo ra “một lớp vỏ bảo vệ” tránh sự phá rối của tà ma quỷ dữ, giúp đứa trẻ luôn luôn khỏe mạnh. Đó cũng là hình thức thanh tẩy, làm cho tâm tịnh, trong sáng, trí tuệ quang minh trước khi bé trai bước vào chùa, vào đất Phật. 
Đến lúc già và chết đi, con người lại tiếp xúc với nước một lần nữa trước khi yên bề nơi chín suối. Theo phong tục của người Khmer, sau khi chết thường được hỏa táng, xương tro đem gửi vào chùa. Tuy nhiên, để cho vong linh người chết sớm siêu thoát, khi hỏa táng xong, người ta phải dùng nước mưa tưới lên bộ xương, rồi lấy nước dừa tươi rửa sạch bụi bặm trước khi bỏ vào chiếc thố đem về thờ. Việc làm này không chỉ biểu hiện sự tôn kính của người sống đối với người đã khuất, mà còn là một sự thanh tẩy cho linh hồn.
Sự thanh tẩy bằng nước, làm sạch mọi thứ ô uế còn được biểu hiện trong nhiều tín ngưỡng khác của đời sống tâm linh và các tập tục của dân tộc, đặc biệt là trong ngày tết cổ truyền Chôl-chnăm-thmey. Không giống các dân tộc Thái Lan, Lào … thường tổ chức “Té nước” vào dịp tết cổ truyền, như là biểu hiện của sự chúc phúc, may mắn, an lành. Người Khmer ở Nam bộ, trong ba ngày tết cổ truyền, tuy không té nước, không dội nước cho nhau, nhưng nước vẫn luôn có mặt xuyên suốt ngay từ những ngày đầu năm mới. Vào dịp này, hàng đêm mọi người đều vào chùa thắp hương niệm Phật, nghe chư Tăng thuyết Pháp và đón nhận những giọt nước thánh (tưk-op) từ các nhà sư vẩy vào người, vì đó là phước báu, là sự may mắn của ngày đầu năm. Và, ai bị ướt càng nhiều sẽ là người hạnh phúc nhất. Riêng vào ngày cuối của tết Chôl-chnăm-thmey, thay vì tiếp tục đón nhận nước thánh từ nhà Phật, người ta lại tổ chức tắm các tượng Phật, các vị Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, các vị sư cao niên và những người già, nhằm tống tiễn những gì của quá khứ xấu xa của năm cũ, chào đón những điều tốt lành, đẹp đẽ của năm mới.
Ngoài ra, nước thánh trong quan niệm của người Khmer còn là thứ thuốc “linh nghiệm”, có khả năng giúp con người tai qua nạn khỏi, an bình về thể xác và yên vui trong tâm hồn. Trong cuộc sống thường nhật, khi có tâm trạng bất an, lo âu, khi trong nhà có những đứa trẻ hay khóc đêm, khi vào nhà mới, khi mua sắm các loại đồ dùng giá trị, nhất là phương tiện đi lại như ô tô, xe máy … người Khmer thường đến chùa thỉnh thị nhà sư hoặc tìm kiếm các vị A-cha tụng kinh, vảy nước lên người, lên các hiện vật để xoa dịu, trấn an tinh thần và làm cho tài sản trong nhà tránh được sự mất mát, hư hao về sau này. Thậm chí ngay cả khi bị trật khớp, bong gân hay bị côn trùng đốt, người Khmer cũng tìm đến các vị thầy A-cha để nhờ thầy “khoán”, bằng việc lấy một ly nước mưa, thắp một nén nhang, sau đó A-cha vừa đọc thần chú, vừa dùng chân nhang khuấy đều ly nước, rồi cho vào mồm và phun lên chỗ đau. Người Khmer tin rằng chỉ làm như vậy ba lần, mọi vết thương sẽ khỏi. Như thế, nước không chỉ là thứ để cúng chư Phật, thần linh, xua đuổi tà ma, quỷ dữ, rửa sạch những thứ nhơ nhuốc, tội lỗi, xấu xa mà còn là phương tiện chữa bệnh.
Dù có quan niệm khác nhau về nước trong từng vùng miền, từng nền văn hóa, từng truyền thống dân tộc, song, nước luôn chiếm vị trí hàng đầu trong mọi thứ vật chất. Thiếu nước con người và các loài của thế giới tự nhiên sẽ phải đối mặt với cái chết. Nhưng, nếu nước quá nhiều, bất bình thường cũng là điều tệ hại cho con người, chưa kể đến những việc làm gây nên sự ô nhiễm môi trường nước đang diễn ra hết sức nghiêm trọng như hiện nay, mà con người đang phải gánh chịu. Đối với người Khmer, nước luôn là một thứ gần gũi, thân thiện, bởi lẽ, nước mang lại sự sống cho con người, làm cho nhân khang vật thịnh, mùa màng tốt tươi, cuộc sống sung túc./.

Đi tu - một tập tục của người Khmer

Ngày nay, tục đi tu vẫn còn phổ biến trong người Khmer ở miền Tây Nam bộ. Bởi vì tu không phải để thành Phật mà để thành người, chuẩn bị cho cuộc sống tốt đẹp ở ngày mai, là một cơ hội tốt để cho họ được học chữ nghĩa, đạo lý và rèn luyện đức hạnh.
Người Khmer ở hầu hết các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thường sống thành từng vùng, có nơi chiếm tới 70% dân số, tập trung nhiều ở các tỉnh giáp biên giới Campuchia như vùng Bảy Núi (Tịnh Biên, Tri Tôn), Hà Tiên (Kiên Giang), Vĩnh Châu (Sóc Trăng). Dân tộc Khmer thuần theo đạo Phật tiểu thừa. Ở đồng bằng sông Cửu Long có hơn 440 ngôi chùa lớn nhỏ của người Khmer, mỗi chùa có ít nhất 5 -10 ông lục, nhiều khi đến 60 - 70 ông ăn ở, học tập tu hành. Các ông lục, còn gọi là sư sãi, là con em người bổn sóc. Gia đình nào có con trai từ 12 tuổi trở lên đều cho vào chùa tu, có thể 3 tháng hoặc 3-4 năm hay trọn đời tuỳ ý, để học kinh, học chữ, rèn luyện thành người có trí thức và đức hạnh.
Ngày xưa, nếu người con trai nào không qua giai đoạn tu trong chùa thì bị xã hội và gia đình cho là bất hiếu và lớn lên rất khó lấy vợ. Bởi vì người con gái Khmer đến tuổi lấy chồng, thường chọn những chàng trai đã qua tu luyện trong chùa, đã hoàn tục. Theo họ, đó là người đã hoàn thành nghĩa vụ và học được cách làm người, nhất là biết chữ nghĩa, được mọi người trọng vọng.
Lễ đi tu thường được tổ chức vào ngày đầu tết Chôl Chnâm Thmây. Vào ngày này, gia đình nào muốn đưa con vào c
hùa tu (vài tháng trước đó, người con trai này phải vào chùa học thuộc vài bài kinh cơ bản) sẽ tổ chức một lễ gọi là Bank-Bom-Buôn để người đi tu từ giã họ hàng, bạn bè và được mọi người cầu chúc sức khoẻ. Khi vào lễ, anh ta cạo đầu, thay quần bằng chiếc xà rông, thay áo bằng một khăn vải trắng đắp lên vai từ trái sang phải gọi là Pênexo, chứng tỏ rằng anh ta từ bỏ thế tục. Lúc đó người ta gọi anh là Nec (rồng).
Theo truyền thuyết từ kinh điển Phật giáo, ngày xưa có một con rồng tu luyện thành người và xin được vào tu theo đức Phật. Một hôm, khi ngủ trưa rồng hiện nguyên hình. Môn đệ khác của đức Phật phát hiện ra liền báo ngay. Đức Phật trục xuất rồng khỏi hàng môn đệ, vì không phải người thì không được tu. Rồng khóc van xin, nhưng không lay chuyển được lòng đức Phật. Cuối cùng rồng xin đức Phật ban cho một ý nguyện là sau này, những ai bước chân vào tu cũng phải gọi bằng tên tộc là Nec. Từ đó đến nay, từ "nec" dùng để gọi nhà sư tương lai và cũng để nhớ đến truyền thuyết trên.
Để vào lễ, buổi tối họ mời sư sãi đến tụng kinh, cúng tam bảo và thọ giới theo Phật. Sáng hôm sau, khi cơm nước xong, họ đưa anh con trai lên chùa, có bạn bè thân quyến mang lễ vật cùng đi theo. Đến chùa, họ đi vòng quanh chánh điện ba vòng rồi mới vào trong làm lễ. ở đây có một nhà sư ngồi gọi là Uppachhe giảng dạy, hỏi và đọc các điều của luật tu hành cho các nec nghe. Sau đó nec mới cầm áo cà sa đi vào hàng giữa sư sãi và đọc lời xin tu. Khi vị thượng toạ chấp thuận thì nec mới đi thay xà rông và khăn trắng bằng áo cà sa. Tiếp theo là lễ thọ giới 10 điều của Phật giáo: 1. Không sát sinh; 2. Không trộm cắp; 3. Không tà dâm; 4. Không nói láo; 5. Không uống rượu; 6. Không ăn ngoài bữa; 7. Không xem múa hát; 8. Không dùng đồ trang sức; 9. Không chiếm ghế cao và giường êm; 10. Không đụng đến vàng bạc.  Cuối cùng các nhà sư cùng Phật tử tụng kinh cầu phước cho người mới tu hành và chúng sinh để chấm dứt buổi lễ.
Đi tu đồng thời theo nếp nghĩ truyền thống cũng là một cách tích phước cho cha mẹ, gia đình và chính bản thân. Tuy nhiên, ngày nay người con trai Khmer vì theo học ở một trường nào đó hoặc có những gia đình quá khó khăn, thiếu lao động thì không phải đi tu và luật tu hành cũng không quá khắt khe như xưa nữa.